|
Chùa Tây Tạng:
Vết chân đầu tiên của Mật
tông Việt Nam
Thật
không ngoa chút nào, khi tạp chí Chùa cổ B́nh Dương cho rằng, chùa Tây
Tạng là "dấu ấn đầu tiên của Mật tông”.
Muốn khám
phá sự kiện quan trọng này, chúng ta hăy dở lại từng trang, cho dù là
khái quát, cái mà các vị Phật tử của chùa yêu kính gọi là Nhật kư Sư ông,
mà sau này, trong phần biên tập lại, các đệ tử của Ngài, sư ông - Ḥa
thượng Nhẫn Tế - đă ghi lại trong một cuộc du hành gian truân của ḿnh
về với tạng cội nguồn của Pháp:
Sự tích tây du Phật quốc.
Ta cũng có thể t́m
thấy hành tích này trong Sơ thảo Phật giáo B́nh Dương của T. Huệ Thông.
Tuy nhiên, các mẫu chứng cứ rời rạc và không nhất quán trong tác phẩm
biên khảo ấy, chỉ cho ta biết những nét đặc trưng của công cuộc đấu
tranh trong thời kỳ đen tối của đất nước và một ít phát triển đơn điệu
của các ngôi chùa ở đây.

Cổng Chùa Tây
Tạng-B́nh Dương
Lịch sử phát triển của một dân tộc, không chỉ là các cuộc xung đột giữa
thiện và ác, giữa nô lệ và giải phóng, mà nó c̣n phải chuyển tải cho
được hệ thống phát triển văn minh của ḿnh như thế nào trong ḷng cuộc
đấu tranh như vậy, nếu ta cho rằng, Phật giáo là cốt tủy văn hóa không
thể thiếu, nói chung, của nhân loại, nói riêng, ở chính Việt Nam. Tuy
nhiên, công phu của tác phẩm biên khảo này vẫn đáng trân trọng. Lịch sử
không chỉ là những con số thống kê, dù chỉ là thống kê sơ thảo, mà nó
c̣n liên quan đến các lănh vực xă hội, văn hóa, kinh tế và giáo dục,
phong tục học..., nhất là, trong đó có vai tṛ tất yếu của Phật giáo.
Sư ông thế danh Nguyễn Văn Tạo, tên thường gọi là ông Mười Tạo, sanh năm
1888, ở thôn An Thạnh (bây giờ là thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An),
tỉnh B́nh Dương. Sư là bậc am tường Đông và Tây học, và là công chức của
ngành y tế. Sư “đam mê” Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với
Ḥa thượng Ấn Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn
Tế, thuộc về cây phả hệ của gịng thiền Lâm Tế đời thứ 40. Sở dĩ sư có
thêm pháp danh Minh Tịnh là do cầu pháp học đạo với tổ Huệ Đăng và thụ
giới với Ḥa thượng Ngộ Định-Từ Phong. (Theo Sơ thảo Phật giáo B́nh
Dương, gọi tắt là ST). Thuận theo hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô
hộ thời bấy giờ, sư ông từng đảm nhiệm vai tṛ Chủ tịch Hội Phật giáo
cứu quốc Thủ Dầu Một do mặt trận Việt Minh hướng dẫn, và theo ST, th́
Hội ra mắt tại chùa Hội Khánh vào ngày 23-3-1945 dưới sự chứng nhận của
bác sĩ Trần Công Vị, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh của tỉnh Thủ Dầu Một
thời bấy giờ.

HT Thích Nhẫn Tế
Theo tôn giả Thế Thân,
sự tồn tại của Phật giáo được cấu thành trên “đôi chân” của Giáo và Hành.
Giáo, tức là những công tŕnh tư duy, nghiên cứu, xiển dương... những ǵ
vốn được bẩm thụ từ Phật dạy, và Hành, tức là sự nghiêm chứng của tự
thân, trên cơ sở truyền thừa. Cả hai, là toàn khối văn minh xuất thế của
Phật giáo và nhờ đó mà Thế pháp được tồn tại, nói cách khác, sự thanh
b́nh của thế gian, luôn sở y trên khối thống nhất vi diệu ấy. Thế là
chúng ta có một cuộc xuất dương của một trong những hành giả mộ Phật vào
những ngày giữa đầu thế kỷ thứ 20. ST cho biết rằng, sư ông là một trong
những vị đầu tiên mang Xá lợi của Phật về Việt Nam và được nghiêm thờ
đến giờ tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu.
Lên đường
Nhật kư sư ông (gọi tắt là NK), cho ta biết là, công việc xuất dương của
sư được hoàn tất hơn 15 ngày với bao thủ tục phiền hà của một đất nước
bị trị - chế độ mật thám và “lư lịch chánh trị” - đúng vào ngày
17-4-1935, sư lên tàu trực hướng Ấn Độ, khoảng 5 giờ chiều cùng ngày,
sau khi lễ Phật và tạm biệt thân bằng đạo hữu. Sư cho biết là, ḿnh xin
Phật để lại pháp phục "theo tục lệ nước nhà mà đi. Qua đến Tây Thiên sẽ
tùy cơ ứng biến. Đó là đề pḥng ngoại đạo, e biết pháp phục mà sinh khó”.
Và, "mới một lần thứ nhất có cái hạnh phúc này, v́ sao lại không vui, mà
lại có sắc buồn bă là cớ sao?” (NK. tr.4).
Tàu nhổ neo, bỏ Sài G̣n lại, chỉ c̣n sóng nước chập chùng, trùng dương
viễn mộng. Bấy giờ là những ngày trăng tỏ, tháng ba Âm lịch, biển cả
tịnh êm và như thế ta được hai khổ thơ tuyệt diệu như sau:
Cửa sổ ngựa qua,
đời mấy lát,
Lỗ-bô tàu chạy cảnh thay liền.
Hỏi thăm giả
thiệt, cùng Hoàn vũ,
Giấc mộng trả lời, dứt đảo điên.
Và,
Gió êm, biển lặng bóng trăng lồng,
Đáy nước, bầu
trời, một Hóa công,
Đuốc nguyệt, đèn soi trên dưới tỏ,
Thiên, Long hội yến tiễn bần tăng.
Thế đó, 8 ngày đă đi
qua, 8 ngày trên đại dương mênh mông ảo hóa, bậc hành giả của chúng ta
đă cảm nghiệm được "chân như" trong huyễn tượng, "thường tại" trong "cửa
sổ ngựa qua, đời mấy lát", và rồi, tàu cũng thả neo khi đến tận bờ bên
kia, nơi mà đức Phật hiện thân, đứa con của Bát nhă - Ấn Độ, Tây Thiên
Trúc.
Thế đó, du khách của chúng ta, trong 8 ngày, tự ḿnh tham học tiếng Anh,
tiếng người Nam Ấn, tức là tiếng Tamil, tham quan cảnh trí Singapore và
nơi đây, ta lại một lần nữa, được lắng ḿnh trong vài khổ thơ trầm mặc:
Không kim, không cổ, vẫn quen nhau,
Cảnh huyễn, mài bôi, ngũ thể màu,
Mắt huệ toàn xem, nào có lạ,
Nơi mô cũng gặp, ngảnh là sao?
Là sao bỉ thử, buổi hôm nay?
Ngũ dục tranh mồi, quên lửng ai;
Nhượng hết cho đời, tay rũ sạch,
Xin đừng chia
rẽ, nói là hai.
Rạng sáng ngày 25-4,
tàu vào cảng Madras và hành giả lưu lại đây ba ngày, có khi th́ cải
trang thành đạo sĩ Bà La Môn, có khi th́ cải dạng là đạo sĩ Hindu, nhờ
vậy mà Ngài “xông pha” với họ một cách dễ dàng, “người bốn thổ [hay bốn
châu thiên hạ], không lạ mắt như cái áo tràng”. (NK, tr.23). Bởi v́, ở
đây, tuy người ta không sùng Phật, nhưng vẫn nể trọng kẻ xuất gia.
8 giờ sáng, tàu hỏa rú c̣i rời Madras hướng đến Xá Vệ Quốc (Calcutta) và
rạng sáng ngày 30-4 th́ tàu đă đến nơi đây. Sau đó, khoảng 3 giờ chiều,
hành giả làm thủ tục đi về Bénarés (Ba La Nại) bằng vốn liếng tiếng Bắc
Ấn có được suốt ba ngày trên tàu hỏa, v́ đôi chút tiếng Tamil đă học
không sử dụng được nơi đây.

Thủ bút của HT
Thích Nhẫn Tế
Nhập thành Ba
La Nại
Hướng về
thành Ba La Nại, nơi mà giáo pháp đầu tiên vận chuyển và cũng là nơi mà
năm anh em ông Kiều Trần Như đắc thánh quả. Nhật kư ghi rằng “mang
gói ra đi, phú mặc cơ duyên, bần tăng chỉ vững ḷng niệm Phật đi tới”.
Chất văn bắt đầu từ tr.29 - tr.36 toát lên sự an ổn lạ kỳ, tuy đă vào
nơi thánh địa, tuy gặp toàn ngoại đạo, nhưng ḷng lữ khách vẫn không
phân biệt, luôn kính ngưỡng, vẫn hướng lên phía trước cho đến khi nào
chạm mặt Phật tích th́ thôi. Suốt đêm thao thức nơi thành Ba La Nại,
hành giả bỗng nhiên uất nghẹn, bao nhiêu tập khí muộn phiền ngàn xưa,
bỗng đâu trút sạch và nghe trong hư không như có tiếng hộ tŕ. Vậy đó,
hành giả đă lưu lại tại chùa ngoại đạo ngót cả hai tuần với tâm niệm
“phép làm người tu hành trong đạo Phật, sở dĩ là tùy thuận, nhẫn nhục,
là cái bài học cần yếu của nhà Thích tử”. Và ngày 31-4, bước chân hành
giả đă nhập thành, tính ra trọn nửa tháng ṛng mới thỏa ước mơ. "Có
lẽ chí nguyện đạt thành từ đây”.
(NK tr.34). Măi đến ngày 14-5 "nghe
nói có chùa Phật cách xa thành Xá Vệ tám ngàn cây số, xin cho người dẫn
đi viếng chùa Phật”; và rồi "thẳng vào chánh điện thấy tượng Như Lai,
phút chốc động ḷng, sa nước mắt, v́ từ 17 tháng Tư tới nay không đặng
lễ bái thánh tượng”.
Th́ ra đây là chùa của hội Mahâ-Bodhi (Đại Bồ Đề) của Tích Lan, hội
chúng đó đến đây để chấn hưng Phật giáo.
Sáng hôm sau đó, hành
giả chúng ta từ giă nhà thờ đạo Hindu, "quảy
gói đi bộ tầm Tăng-già mà vào, phút gặp hai vị Sa-di Xiêm đạo hiệu là
Mêta và Karnna,”
(NK, tr.53) sau khi ra mắt nhau, nhờ huynh Mêta biết đôi chút tiếng Pháp,
nên chuyện văn, hành giả mới biết chỗ ḿnh vừa đến chính là Lộc-giả-viên
(Sarnath) và như thế là, sư ông xin gia nhập hội. Ở đây, hành giả an
ḷng học tiếng Anh và tiếng Hindi vừa đủ giao tiếp phổ thông với những
đạo huynh cùng hội. Và cho đến tháng 11-1935, sư ông mới chính thức xin
đến cội bồ đề, nơi Đức Thích Ca tọa thiền để lễ bái cúng dường.
Giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11-1935, NK không cho ta biết sư đă làm
ǵ, nhưng ta cũng đoán ra rằng, đây là khoảng thời gian mà sư ông, bậc
hành giả của chúng ta, buộc phải học bản ngữ Ấn Độ và nhất là tiếng Anh,
sự kiện này, chính những lá thơ sau đó mà sư đă viết cho ṭa Lănh sự Anh
v.v... và thời gian c̣n lại, là những thời gian, ta biết chắc rằng, sư
ông dành hết cho tọa thiền và quán tưởng các chủng tự Phật, như các tiểu
đoạn của tr.51-53 đă ghi, khi sư quán chữ (अ)
hay là quán "mặt nhật ở mi gian của Phật tổ”, "chập
lâu có đến 10 phút, tôi mới lấy mắt nh́n ḍm người nơi mé sông, th́ sắc
diện ai cũng đặng màu kim sắc. Tôi toại nguyện b́nh đẳng quán”.
(NK, tr.52).

Kỷ vật của HT
Nhẫn Tế từ Tây Tạng
Đoạn nhật kư này dạy
ta biết rằng, “Đại và Tiểu thừa” không có một ranh giới nào cả trong
ḷng của sư. Bởi v́, khi vào vườn Lộc Giả, chính sư đă xin gia nhập hội
của chư sư người Tích Lan, tức là các vị Phật giáo Nguyên Thủy. Vấn đề ở
đây, là “đứa con chung của một đấng cha lành - Đức Phật” và, người cha
nào lại không muốn con ḿnh “thành Phật” bao giờ. Sự kiện này cho ta
biết rằng, với ḷng thiết tha cầu Phật, với nơi nào có tháp tích, điện
thờ Phật Đà, th́ nơi đó luôn là Phật địa, luôn là b́nh đẳng địa, như
phép quán mà sư ông từng thực hiện, cho những ai cầu pháp, và ta đă có
một sư ông như vậy.
Một sự kiện thật là quan trọng diễn ra trong khoảng thời gian đầu tháng
Giêng năm 1936 (15 / janvier / 1936), là sư đă được tháp tùng cùng các
vị Lama đi Népal để lễ Thánh tháp. Phái đoàn hành hương gồm có: sư (người
Việt Nam), t́-kheo Phạm Ngộ người Hoa và, Losang Lama, Losang Kompo,
Kolchch Tâmpa (ba vị sư Tây Tạng). Sau khi vuợt qua hàng ngàn cây số,
đoàn hành hương cũng đă đến Tuyết Sơn, tức thắng địa Népal, lúc đó
khoảng 4 giờ sáng, ngày 2-2-1936, tức ngày mùng 10-1-Bính Tư.
Ta nói sự kiện này
quan trọng, là v́, chuyến đi ấy, sẽ mở ra một nhân duyên cho việc tấn
nhập Tây Tạng của sư mà mục đích duy nhất là: nếm tận nguồn pháp vị như
vậy của cả hai pháp tu mà hành giả của chúng ta vốn đă thực hành, như ta
biết, đó là: sư thực hành cả hai pháp tu, Thiền Mật như trong những
trang nhật kư đă cho biết. Sự kiện này cũng nói lên rằng, lịch sử cụ thể
của Thiền và Mật, trên ḍng chảy của Phật giáo Việt Nam, nói chung, sư
là vị được trực tiếp truyền trao, bởi v́, đúng như ST cho biết: “Ông
nghiên cứu Phật giáo từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với ḥa thượng Ấn
Thành-Từ Thiện, chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc về
ḍng Lâm Tế đời thứ 40” và cũng đúng như bài viết của TS. Trần Hồng
Liên, “Chùa Tây Tạng - dấu ấn Phật giáo Mật tông Tây Tạng” đăng trong
tập san Khoa học Lịch sử B́nh Dương, số 1, tháng 12-2005, và bài viết
này được phát triển thành một tiểu luận, với tiêu đề: "Chùa Tây Tạng,
B́nh Dương: ngôi chùa duy nhất ở Nam bộ mang dấu ấn Mật tông Tây Tạng”
đăng trong tập san Chùa cổ B́nh Dương và đây là những ǵ mà ta đang đeo
đuổi.
Tuy nhiên, tại nhiều
nơi trong NK, cho phép ta tuyên bố rằng, sư c̣n là một hành nhân Niệm
Phật nữa. Chúng ta nên nhớ, giáo pháp dù là giáo pháp ǵ được Phật
thuyết ra, chính là Sắc, bởi v́ nó là phương tiện và cũng bởi v́, nó
được thuyết ra cho ba cơi. Và, chính Đức Phật đă nhập Niết bàn trên sắc
pháp này, tức là cảnh giới của Thiền thứ tư vậy. Do đó, trên cơ sở như
thế, Đại thừa kiến lập học thuyết “Tam Thân”, là v́ ngoài sắc, th́ chúng
sinh trong ba cơi biết dựa vào đâu - chúng ta có Bồ tát hạnh. Nghĩa
rằng, cho dù “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”, th́ “trực chỉ”
vẫn phải luôn là Sắc trong mọi trường hợp, c̣n “kiến tính” th́ hăy để
cho hành nhân tự nghiệm bằng chính Phật tâm của ḿnh. Theo chỗ tôi biết,
chùa Tây Tạng, mỗi tháng vẫn hai ngày tổ chức lễ sám, mỗi chiều về viếng
chùa, Phật tử luôn nghe chư sư tụng niệm Di Đà, Phổ Môn. Bởi v́, chúng
ta, đôi khi đọc NK sư ông bằng cái tâm lạm phát (inflationary-mind) của
ḿnh nhiều hơn, cái mà thuật ngữ Phật giáo gọi là “ngă mạn - adhimàna”,
cho nên ta làm sao mà hiểu được hành tích của sư ông, thế th́, có cái
gọi là “tông môn”, “giáo phái” mới có cơ hội xuất sinh theo lẽ thường
t́nh. Nói theo Duy thức, mọi thứ cưỡng danh, cũng chỉ là “danh ngôn tập
khí - adhivacàna” mà thôi. Cái “phần mềm” của bất cứ giáo pháp nào, th́
phải do ta tự nghiệm.
Trở lại, 4 giờ sáng
ngày 3-2-1936, đoàn đă đến chân núi Hy Mă Lạp Sơn, thuộc nước Népal, họ
đă viếng thăm tháp "Sư tử, tẩy uế và lễ Phật, nhiễu tháp”. (NK, tr.60).
Sau đó, bằng mọi phương tiện, trải qua 6 ngày gian khó, đoàn đă trực
nhập Népal. Và ở đây, nơi tháp Bouddha-Narth, sư đă thỉnh đặng một số Xá
lợi Phật, hiện đang trang nghiêm tại chùa Thiên Thai, Bà Rịa, Vũng Tàu,
và một ít cũng đang được phụng kính nơi chùa Tây Tạng. NK ghi rằng: "Đó
là b́nh Xá-lợi của Phật Thích-Ca, thầy mà lễ đặng món ấy cũng như chơn
Phật thân... Nghe qua, bần tăng chưng hửng. Chập lâu, bèn thưa: nghe
rằng, xưa kia Xá-lợi đă phân từ bửu b́nh, chia mỗi tháp một b́nh, mà đây
sao lại nhiều b́nh? Ngài [thượng tọa quản tháp] rằng: phải, nhưng duyên
cớ ấy có lẽ ông cũng hiểu, v́ ông là Thích tử, lựa hỏi tôi làm chi? Bần
tăng chắp tay bạch rằng: ở An Nam qua tới xứ này là thiên sơn vạn hải,
th́ có đâu đặng rơ biết duyên cớ ấy, xin Ngài hoan hỷ. Đoạn Ngài dẫn
tích: xưa th́ Xá-lợi Phật tổ ở tại tháp Niết-Bàn (Cu-thi-na-quốc), lúc
binh Ăng-lê náo loạn, th́ tổ sư bèn dời qua nước Niếp-ba-lê, thờ tại
Sư-tử tháp này. Từ khi ngoại đạo thạnh hành, Phật đạo đă qua [bước sang]
thời kỳ mạt pháp. Ông qua tới Thiên Trúc, ông có thấy những tháp tự tiêu
tan hư sập chăng?... Bần tăng về cả ngày buồn bă, bữa ngọ biếng ăn. Cái
tham tâm đă dậy động và nghĩ rằng, "Ḿnh đi, ḿnh thấy, ḿnh đặng lễ
bái, mà ngặt một điều là: thương thầy bổn sư [y chỉ sư], tuổi đă cao mà
công cũng cao trong nền đạo hạnh, nhưng không đặng thấy và lễ bái. Trọn
ngày đêm van vái vọng tưởng đức Như Lai, xin thương Nam-Việt chư Thích
tử và chúng sinh xui sao cho đệ tử cầu đặng chút phần Xá-lợi đem về nước
Nam (đó là cái tham tâm nó lộ là vậy: đă lễ bái được rồi muốn thấy, thấy
rồi lại muốn cho đặng đem về xứ mà chia phước với chư Tăng và bá
tánh)... v́ Ngài cũng rơ, Xá-lợi là vật báu nhà Phật đạo, sáu đời hằng
giữ chỗ này, chưa có ai đặng hồng phúc ấy... Thôi thôi, v́ đạo đức của
thầy, v́ công đức khổ hạnh của thầy, v́ chúng sinh, dầu tôi có bị khổ
sau khi dâng cho thầy chút đỉnh Xá-lợi, th́ tôi cũng cam tâm.
Ôi! nghe qua dường
như bệnh hấp hối mà gặp thuốc hồi dương, nên lễ nữa, ngài đỡ dậy và nắm
tay kéo thẳng vào đại điện, lấy ch́a khóa mở cửa tháp, vào vọng bái, quỳ
lại, rồi đứng dậy, nói rằng: nhơn duyên bao nhiêu th́ đặng bấy nhiêu,
tôi không biết. Nói rồi, bưng bửu b́nh xuống, bảo bần tăng lấy một cái
khăn vải vàng của bổn đạo cúng trên điện, để lên đầu, trải ra, ngài trút
cả b́nh lên khăn, th́ nghe có chút ít rớt vào khăn. Dở b́nh lên, bần
tăng bèn túm lấy khăn, rồi lễ bái đi ra. Ngài căn dặn, cẩn thận, rồi
ngài đưa ra cửa. Bần đạo kiếu luôn... ḷng mừng khấp khởi”. (NK,
tr.68-69).
Qua đây, ta thấy rằng, mục đích Tây du của sư không chỉ v́ sự ham muốn
của cá nhân ḿnh, mà chuyến hành hương ấy, c̣n mang theo cả tâm nguyện
của ḿnh cho toàn dân tộc Việt, cho hạnh phúc của chư Tăng và bá tánh
nữa. Một lần nữa, ta học nơi đây, hạnh nguyện của một chúng sinh có tuệ
giác. Do vậy, khi bước vào cổng của chùa Tây Tạng, ta bắt gặp ngay hai
câu kệ khắc trên hai trụ đá của chùa:
西歸獨?妙天真寶
藏出含靈地正香
Tây quy độc diệu thiên chơn bửu
Tạng xuất hàm
linh địa chánh hương.
Tạm dịch:
Ngọc thật của trời độc diệu từ Tây lại
Chánh hương của
đất chứa linh thiêng do Tạng sinh.
TS. Trần Hồng Liên,
cho rằng, “thiên chơn bửu” nhắm vào hai chùa Thiên Chơn và Bửu Hương (các
ngôi chùa do sư kiến lập hoặc trùng tân) và “Tây” th́ cho là Tây Tạng.
Tất nhiên, để chứng minh cho bài viết của ḿnh, ở góc độ lịch sử, nên ST
đă quy như vậy, và đây cũng là một mẫu chứng cứ phổ biến, hợp lư (tiếc
rằng, trong tiểu luận tạp san Chùa Cổ B́nh Dương chữ 靈 đ viế lộ thành 零.
Nguyên văn là hàm linh [含靈],chỉ cho chúng sinh có t́nh thức). Tuy nhiên,
天真寶, c̣n có nghĩa là ngọc Như ư (maniratna), bản chất trong sáng đặc thù
và 藏出, có nghĩa là xuất từ Như Lai Tạng hay gọi là xuất từ chủng tính
Như Lai, cũng có nghĩa là, ‘pháp giới Tạng thân, gọi là A Di Đà Phật”,
chớ không phải là bọn dị sinh hay prthak; c̣n “正香 - chánh hương”, có
nghĩa là: Định hương, Tuệ hương và Giới hương, ba yếu pháp làm nên đời
sống xuất thế của Phật giáo và, 地, chỉ cho Thập Địa (dasabhùmi) của Bồ
tát đạo; hàm linh (含靈), chỉ cho tính phương tiện Sắc châu biến hay phổ
quát từ Phật tính; Tây (西) và Tạng (藏) ghép lạ, chỉcho chùa Tây Tạg
trong cách uyên thâm Nho họ củ sư Tóm lạ, hai câu trên, theo thiể ư có
nghĩ la "ai cũg có thểtu thành Phậ cảv́ sinh ra từTạng Như lai, nhưng
pháp môn thù thắng nhất, phải là từTây lại".
Tấ cả những điều đó
sẽ có thể nên lư giải như thế nếu xét trên quan điểm triết học của Đại
thừa. Song, trí phàm làm sao dơi được hành tướng củ bậc “vô vịc chân
nhân” Thế nhưng, có một điều chắc chắn rằng, hạnh của sư phải là hạnh
“vô công dụng hạnh”mới đúng, tức là thanh tịnh hạnh, hạnh không tư lợi,
như ta bắt gặp bất cứ nơi đâu, trong toàn NK. Nếu chúng ta viếng chùa,
trước khi vào chánh điện lễ Phật, ta sẽ gặp trước tiên là một cái tháp
khiêm tốn có bốn tầng, tầng đầu có khắca họ h́nh của sư tầng kế là câu "từ
Lâm tế pháp nhăn gia phong, húy như đi Pháp Minh, diệu vân yết ma vị?,
viết bằng Hán tự tầng ba là bài chú “Om manipadme Hùmॐ?ण?प?्?ेह?ं
- Om trong hoa sen là ngọ Như ư Hùm”viết bằng tiếng Tây Tạng và tầng
trên cùng là lục tự "Nam
mô A Di Đà Phật”
bằng Hán tự Tháp này do Ḥa thượng Tịch Chiếu, tổ thứ nh́ của chùa thực
hiện. Đặc trưng cấu trúc của tháp này cho ta biết theo “tư kiến”là, sư
không xiển dương, hay chủ trương bất cứ giáo pháp nào, cho dù, sư là mộ
Lama đắc pháp chánh truyền từTây Tạng.
Trở lại, vào ngày 7-2, đoàn khởi hành về Bồ Đề Đạo Tràng, ghé viếng đại
học Nalanda, hồi tưởng đại sưHuyền Tránng khi xưa có lần ở đâ y học đạo,
lễ bái thạch ṭa đạo tràng, nơi Phật dừng chân khai hóa. Đàn trú nơi đây
suốt ba tháng và thực hiện mọi công hạnh của một Thích tử như công quả
cúng dường, chiêm bái khắp các thánh tích. Và rồi, sư xin phép Hội Đại
Bồ Đề đi Tây Tạng.
Nhập Lahsa,
kinh đô Tây Tạng
Đă vào
thành Lahsa rồi, măi đến 3-7-1936, sư mới được yết kiến và hành lễ với
quan nhiếp chánh với tư cách là Quốc vương Bơdalama (tức là quan nhiếp
chính của vương quốc Tây Tạng thời bấy giờ, bởi v́ đức Dalai Lama, người
kế vị chánh thức mới chừng 5 tuổi mà thôi), lúc bấy giờ Quốc vương (quan
nhiếp chính) chỉ 27 tuổi. NK ghi rằng: “
Bữa điểm tâm cải salade chấm muối, không có giấm mà trộn salade. Đoạn 9
giờ, quan thừa tướng cho người lại bảo, giờ này đi đảnh lễ Quốc vương
Bơdalama đặng; Bảo rằng: bần đạo phải đắp y bí-sô, chớ không nên bận đồ
Tây Tạng đi yết kiến Quốc vương. Y theo lời dạy, rồi cùng huynh đệ của
Samdhen, bốn người khuân lễ vật... Lén ngó, thấy Đại đức Bơda Lama Quốc
vương (tuổi) tác c̣n thơ (hỏi lại th́ mới 27 tuổi, thế ngôi Tả-lê lama
Quốc vương tịch, đặng bốn năm), mặt mày sáng láng, ngồi nơi long đơn
trải gấm Tây Tạng. Nội bọn, chỉ bần đạo đắp y vàng rực từ trên sấp dưới,
làm cho Quốc vương chăm chỉ ngó ngay, các quan nội điện đều để mắt. Đoạn
Samdhen đảnh lễ, bần đạo y theo, rồi Samdhen đem Anh-lạc long tợ dưng...
các quan hầu mời bần đạo ngồi nơi đơn cao... Đến nay đi ra mắt Quốc
vương th́ thừa tướng đă tâu trước, lại đi với bọn tôi, đi con đường đến
ngự điện, ai ai thấy cũng biết, nào ai dám nói. Lại thêm lúc về tuy nội
bọn đi không có Lama quan dẫn đường, nhưng nhân dân quan lại xem thấy
cái niệt điều trên cổ [tức là khúc vải vàng quấn cổ vua ban] cũng đủ
biết ở trong ngự điện, hoàng thiền mà ra. Bần đạo nghe qua, niệm Phật và
cảm oai linh Phật lực ủng hộ làm cho bần đạo an ổn các nơi vô chướng
ngại”.
Từ thời điểm này, sư
chánh thức là một vị tu sĩ Tây Tạng, cho đến khi sư đắc thiền pháp và
được Pháp danh là:
Thubten Osall Lama (có nghĩa: Thubten
là tên đức Tả-lê Lama Thái thượng hoàng đă băng hà. Thubten là ṿng cứng
bền chắc kim cương. C̣n chữ Osall là:
ánh sáng mặt trời, tên của đương kim quốc vương Lama, nên bần đạo biết
là: Huệ nhật. (NK, tr.319-320) và pháp danh này được loan báo khắp nơi.
Ngày 30-6-1937, lúc “
7 giờ sáng sư về Sài G̣n, về tới am 11 giờ trưa”. (NK, tr.406). Đúng ra,
sư c̣n phải ở Tây Tạng một thời gian nữa, nhưng, theo NK, các sư Tây
Tang cho biết là đất nước ḿnh sẽ trải qua binh biến, nên sư không thể
lưu lại được. Ta thấy, “pháp nạn” của Tây Tạng, vốn đă được người Tây
Tạng biết trước rồi. Và đây cũng là vấn đề lịch sử, xét trên thánh trí
của các Lama.
Theo NK, ta có thể chia ra làm hai phần: từ tr.13-tr.186, là quá tŕnh
chiêm bái Phật tích ở Tây Trúc và, từ yt.192-tr.317, là quá tŕnh tu học
tại Tây Tạng. Nghĩa rằng, sư đă thật sự “hóa thân” làm một Lama Tây Tạng
với mọi công hạnh đặc thù của một Lama - học Tạng văn, thiền định, quán
tưởng Tứ niệm xứ theo cách riêng của Phật giáo Tây Tạng, tŕ chú và các
phương pháp Yoga mang tính vật lư đặc thù (của Tây Tạng)... - cho đến
khi đắc pháp và thọ pháp danh.
Với lối văn b́nh dị,
khoa học và giàu ḷng bi, NK dẫn ta đi vào chi tiết của lịch sử Phật
tích ở Ấn Độ, các tập quán cũng như các phương thức tu hành Phật giáo
cũng như của các ngoại đạo, lồng trong đó là các quan điểm trung thực và
thắm đượm t́nh cảm của sư. Và rồi, bản văn dẫn ta vào đất nước Tây Tạng
với các chuỗi gian truân trong quá tŕnh cầu và đắc pháp. Có thể nói,
vào những ngày giữa của phân nửa đầu thế kỷ XX, th́ NK, không chỉ là một
nhật kư, mà c̣n là một áng văn kư sự thiên tài, một vần thơ lộng lẫy của
một nhà thơ giàu t́nh cảm, thấm đượm tính nhân bản và Phật bản. Hơn thế,
NK c̣n thể hiện là một giáo pháp thực sự của một bậc chân tu. Nó chuyển
tải hầu hết mọi thể nghiệm của “căn” và “cảnh”, một quá tŕnh lịch
nghiệm của một cá nhân. Xa hơn, NK đă trở thành kim chỉ nam cho cả hai
mặt: lịch sử thuở “b́nh minh” của Mật giáo ở Việt Nam nói chung, và nói
riêng tại B́nh Dương, và lịch sử giáo chứng nữa.
Như một điểm son, một
vết chân trên ḍng lịch sử c̣n nhiều khuất tất, bởi v́, chỉ hai chữ
“truyền thừa” vốn đă mang lại biết bao xung đột hệ phái trong bất cứ tôn
giáo nào, bất kể Phật giáo hay là không. NK sư ông là một dấu ấn lịch sử,
nó chia phần ḿnh cho giáo pháp và cho tất cả chúng sinh, như chính chân
lư chia phần b́nh đẳng cho tất cả. Phật giáo, thật vậy, như con Rồng
thần, người ta chỉ có thể thấy được phần “đuôi” của nó. Chùa Tây Tạng,
cũng như, có thể c̣n biết bao nhiêu ngôi chùa như thể với dáng vẻ khiêm
nhẫn của ḿnh, đă chuyển tải nơi tự thân biết bao điều huyền nhiệm và
điều này cần đến sự phê xét và nghiên cứu của những nhà sử học. Bởi v́,
nói cho cùng, cả Mật và Thiền mà sự tồn tại của cả hai, phải luôn được
sở y trên b́nh diện trực truyền đúng như bản thân của chúng.
Nằm dưới rừng đại thọ
đă thành lơi xám, chùa Tây Tạng ( “đă
được nhiều lần trùng tu và ngày thêm trang nghiêm theo lối kiến trúc kết
tân. Chánh điện thiết kế thờ phượng như một pháp hội khi Phật c̣n tại
thế. Ở giữa điện thờ Phật Thích-Ca (tượng cao thiền tọa 2m3). Chung
quanh gồm chư Phật ở các vị trí như tầng dưới thờ Địa Tạng, Di Lặc; tầng
kế thờ Phổ Hiền, Văn Thù; tầng trên là Quan Âm, Thế Chí... Đặc biệt đích
thân Ḥa thượng trú tŕ (tức ḥa thượng Tịch Chiếu, hiện c̣n tại thế,
tuổi đă ngoài 95) cũng góp phần tham gia vào việc chỉnh sửa trong quá
tŕnh tạo tác một số ảnh tượng Phật như tượng Đức Bổn Sư... cho được
hoàn mỹ hơn... Sau lần đại trùng tu vào năm 1992, chùa có dáng dấp gần
giống như một ngôi chùa Tây Tạng. Chánh điện cấu trúc h́nh khối vuông,
chính giữa là ngôi tháp (stupa), tứ giác có chiều cao trên 15 mét. Cách
thiết kế tầng thượng ở mặt bằng nốc chùa... năm điện thờ năm vị gọi là
‘ngũ trí Như Lai’ (chiều cao mỗi vị 1m5)...
Đặc biệt hơn cả,
có lẽ Minh Tịnh là nhà sư Việt Nam đầu tiên ghi chép, lưu giữ được h́nh
ảnh, sự kiện cuộc hành tŕnh về đất Phật một cách chi tiết đầy đủ từng
ngày từ Viêt Nam qua Ấn Độ - Népal - Tây Tạng và ngược lại. Cuốn nhật kư
này, có thể xem như là tập “Tây Trúc - Tây Tạng kư” ghi rơ thời gian,
các địa danh và Phật sự suốt cuộc hành tŕnh từ khi ngài xuất hành từ
Thủ Dầu Một, B́nh Dương, rời bến Nhà Rồng (Sàig̣n) vào ngày 17- 4-1935
cho đến lúc trở về Việt Nam vào ngày 30- 6-1937 (kéo dài 2 năm 2 tháng
13 ngày). Cuốn nhật kư ghi bằng thủ bút của Ngài với nét chữ nghiêng,
đẹp, rơ ràng bằng chữ quốc ngữ, có xen lẫn ghi chú thêm bằng tiếng Pháp,
Anh (Tây Tạng, Phạn...). Nhật kư có độ dày trên 300 trang khổ lớn, hiện
c̣n lưu giữ cẩn thận tại chùa Tây Tạng”. Và, có thể nói “Ngài là một
“tiểu Huyền Tráng của Việt Nam” ) vậy. (Theo tập san Chùa Cổ B́nh Dương).
Để kính tán công đức
của sư đối với nước Việt nói chung và riêng đối với B́nh Dương và rất
riêng đối với người viết - bậc hành nhân sau khi đắc pháp từ Tây Tạng về,
đă “mặc
như lôi”
cho đến khi thị tịch, nghĩa rằng, Phật giáo chỉ có thể t́m thấy nơi một
vài vuông đất “thổ cư” khiêm tốn hơn là nơi hàng trăm mẫu đất “trồng cây
ăn trái” hay “đất nông nghiệp” - đă có chút phước duyên đọc được NK này
với “tư
kiến”
của ḿnh. Cho nên, xin trích một bài chú thuộc hệ Bát Nhă nhằm quy mệnh
dưới phẩm tính ấy. Chú viết:”ओं
आ ई ऋ. ऊ लरि पंचधातुविशोधनि स्वहा
(Các
linh tự như: Om, ā, ī, ū, là những linh tự phải đắc thành trong cách
tịnh hóa ngũ căn.)
PHÁP
HIỀN
|